Tranh chấp thừa kế là một trong những dạng tranh chấp dân sự phổ biến, phức tạp và thường kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Nguyên nhân xuất phát từ việc đây là tranh chấp giữa những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng; tài sản tranh chấp đa phần là nhà đất có giá trị lớn; đồng thời quá trình giải quyết còn liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như thừa kế, sở hữu, đất đai, hôn nhân và gia đình, nhà ở cùng các quy định pháp luật liên quan khác.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, hai vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là xác định thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản. Đây là căn cứ để xác định di sản của người chết để lại, xác định người được hưởng thừa kế, xác định thời hiệu khởi kiện cũng như lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng phù hợp trong từng thời kỳ.
THỜI ĐIỂM MỞ THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Cách xác định thời điểm mở thừa kế:
Theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết hoặc thời điểm người đó bị Tòa án tuyên bố đã chết.
Cụ thể:
– Đối với trường hợp người có tài sản chết: thời điểm mở thừa kế là ngày chết được ghi nhận trong giấy chứng tử hoặc giấy tờ hợp pháp thay thế giấy chứng tử.
– Đối với trường hợp bị Tòa án tuyên bố đã chết: thời điểm mở thừa kế là ngày chết được xác định trong bản án hoặc quyết định tuyên bố chết đã có hiệu lực pháp luật.
Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế, cụ thể:
– Là căn cứ xác định người thừa kế. Theo quy định pháp luật, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế; trường hợp người thừa kế sinh sau thời điểm mở thừa kế thì phải thành thai trước khi người để lại di sản chết.
– Xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc. Di chúc chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế.
– Xác định phạm vi di sản thừa kế. Chỉ những tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết tại thời điểm mở thừa kế mới được xác định là di sản để lại.
– Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Người thừa kế được thực hiện quyền và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản kể từ thời điểm mở thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
– Xác định người quản lý di sản cũng như quyền và nghĩa vụ của người này theo quy định pháp luật.
– Là căn cứ tính thời hiệu yêu cầu chia di sản, thời hiệu yêu cầu xác nhận hoặc bác bỏ quyền thừa kế và thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
– Là căn cứ xác định văn bản pháp luật áp dụng trong từng giai đoạn cụ thể.
Có thể thấy, việc xác định đúng thời điểm mở thừa kế có vai trò quyết định trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án.
THỜI HIỆU KHỞI KIỆN YÊU CẦU PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu hết thời hạn này thì mất quyền khởi kiện.
Từ đó có thể hiểu, thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế là khoảng thời gian mà người thừa kế được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu của một hoặc các bên đương sự và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
Trường hợp thời hiệu đã hết nhưng không có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu hoặc yêu cầu không đúng quy định thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU YÊU CẦU CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Đối với trường hợp mở thừa kế từ 01/1/2017: Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015:
– Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản;
– 10 năm đối với động sản;
Thời hiệu được tính kể từ thời điểm mở thừa kế.
Hết thời hiệu này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản. Nếu không có người thừa kế quản lý thì:
– Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai đủ thời hạn luật định;
– Nếu không có người chiếm hữu thì di sản thuộc về Nhà nước.
Như vậy, đối với các trường hợp mở thừa kế từ ngày 01/01/2017 trở đi, thời hiệu khởi kiện được áp dụng thống nhất theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Đối với trường hợp mở thừa kế trước 01/1/2017:
Theo điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, kể cả đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày luật này có hiệu lực.
Bên cạnh đó, Giải đáp nghiệp vụ số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết các tranh chấp thừa kế tài sản.
Đồng thời, Án lệ số 26/2018/AL xác định: Trường hợp người để lại di sản là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 nhưng thời điểm xét xử sơ thẩm Bộ luật Dân sự 2015 đang có hiệu lực thì thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn được áp dụng theo Bộ luật Dân sự 2015.
Do đó, đối với các vụ án đang được Tòa án thụ lý mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/01/2017 thì thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn được áp dụng theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản.
CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN THỪA KẾ
Theo khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP và khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, một số trường hợp tranh chấp thừa kế trước đây bị đình chỉ hoặc trả đơn do hết thời hiệu nhưng theo Bộ luật Dân sự 2015 thời hiệu vẫn còn thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại.
Tuy nhiên, đối với các vụ án đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/01/2017 thì về nguyên tắc không được khởi kiện lại, trừ trường hợp quyết định đình chỉ do hết thời hiệu.
BẠN ĐANG CẦN HỖ TRỢ PHÁP LÝ?
Mọi thông tin trong bài viết đều được tham vấn chuyên môn bởi Luật sư Trần Duy Huy. Nếu bạn đang gặp vướng mắc về đất đai, ly hôn – quyền nuôi con hoặc các vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay để được hỗ trợ kịp thời:
- Hotline/Zalo: 0369151515
- Website: LuậtsưHuy.vn | LUẬTSƯ.NET
Văn phòng làm việc: 286 Nguyễn Oanh, Phường Gò Vấp, TP.HCM